Trần Kiêm Đoàn


HIỆN TƯỢNG XUỐNG CẤP VÀ NHU CẦU CẢI CÁCH
của nền giáo dục Việt Nam hiện nay

 


         Khi nói đến giáo dục, phải nói đến cả hai yếu tố tương tác quan trọng: Kiến thức và đạo đức. Có kiến thức mà thiếu đạo đức, nhà trường sẽ biến thành “chợ chữ”. Khi nhà trường thành nơi mua văn bán chữ th́ quan hệ thầy tṛ sẽ trở thành quan hệ con buôn và khách hàng. Trong một hoàn cảnh như thế th́ chữ nghĩa và kiến thức sẽ trở thành mặt hàng trao đổi và đạo đức học đường sẽ vắng bóng.


Là một người đă trực tiếp làm công việc giảng dạy tại các trường trung học ở Việt Nam trước và sau năm 1975; cũng như giảng dạy tại các đại học Mỹ, tôi có cơ hội tiếp cận nhà trường, học sinh và sinh viên trong cả ba môi trường giáo dục có nội dung lẫn h́nh thức khác nhau. Thật không đơn giản và dễ dàng để nói đến sự thăng tiến hay suy đồi của một nền giáo dục thông qua cảm tính và hiện tượng. Tuy nhiên, người ta có thể nh́n thấy những h́nh ảnh trở thành quá phổ biến của thanh niên trong độ tuổi lao động la cà ở quán nhậu, tiệm cà-phê trong giờ làm việc hay tuổi đi học lêu lổng ngoài đường trong giờ học tập ở trường hoặc quan hệ thô bạo, phi giáo dục của thầy tṛ trong lớp… để làm “chỉ dấu” hé mở bước đầu cho sự quan sát, t́m hiểu, phân tích về một quá tŕnh xă hội và giáo dục đang trên đà tiếp diễn.


Theo các nhà giáo dục có tên tuổi trong nuớc th́ nền giáo dục Việt Nam trong gần 40 năm qua có khuynh hướng đi theo một ṿng tṛn xoáy trôn ốc mà đỉnh nằm ngược chiều xuống dưới. T́nh trạng tham nhũng, hối lộ, tôn sùng giá trị vật chất của xă hội đă làm nhiễm độc môi trường giáo dục: Lương y không c̣n là từ mẫu, quan chức không c̣n phát huy vai tṛ biểu tượng là cha mẹ dân và thiên chức nhà giáo bị xô giạt vào nếp sinh hoạt thực dụng, bon chen cộng với sự áp đặt tư tưởng chính trị một chiều là nguyên nhân trực tiếp cho khuynh hướng thoái trào của chương tŕnh giáo dục Việt Nam trong gần bốn thập niên qua. Sự đổ vỡ về mục đích đào tạo nhân tài và uốn nắn thế hệ trẻ thành người tốt cho tương lai đất nước đang trên đà thoái hóa. Sinh hoạt học đường và quan hệ thầy tṛ; mối liên lạc giữa trường học gia đ́nh và xă hội xuống cấp ngày càng nghiêm trọng.


Sáng hôm nay, 19-2-2014, tôi vừa được xem một màn “hỗn chiến” giữa thầy và tṛ tại một trường trung học ở B́nh Định trên mạng lưới Youtube [1]. Thầy là một giáo viên trẻ và học tṛ là học sinh lớp 11A2. Trong đoạn phim ngắn, có lẽ thu bằng I-phone ngay trong lớp, lư do không rơ nhưng người thầy giáo đă đánh một học sinh nam ngay trên bục giảng, trước mặt lớp học gồm cả nam nữ học sinh. Cách đánh của người thầy giáo quá tàn nhẫn và thô bạo bằng những cú tát dồn dập, đấm thẳng vào mặt học tṛ với tiếng bốp chát thu trong máy nghe rơ mồn một, làm vênh cả đầu và mặt người học tṛ. Nạn nhân và bạn trong lớp phản ứng, dồn thầy giáo vào góc tường với hai tay đưa ra trong thế chống đỡ. Tuy đoạn phim ngắn không đủ nêu lên toàn cảnh diễn tiến nhưng cách trừng phạt của thầy giáo đối với học tṛ bằng hành động vũ lực như thế là hoàn toàn phi giáo dục và cách phản ứng đánh lại thầy giáo là hành động thiếu luân lư. Nói tóm lại là cả thầy lẫn tṛ trong trường hợp nêu dẫn đều hành động sai trái và biến lớp học thành đất hè phố của giới đầu khấu, lâu la.


Quan hệ thầy tṛ đă bị chao đảo v́ áp lực của quyền thế, kinh tế, xă hội và đây không phải là trường hợp cá biệt loạn động lần đầu xảy ra trong nhà trường Việt Nam.


Theo truyền thống giáo dục mọi thời và mọi nơi, thầy giáo là người truyền đạt và học tṛ là kẻ tiếp thu kiến thức. Dẫu cho ở thời nào, khung cảnh xă hội nào và bối cảnh nhân văn nào th́ quan hệ thầy tṛ là một quan hệ giáo dưỡng. Người xưa coi thầy trọng hơn cha. Ngày nay tuy có khác nhưng không thể nào đặt quan hệ thầy tṛ theo mô thức “cá đối bằng đầu” được. Thầy cần có ân và có uy. Tṛ cần có kính và có lễ. Dẫu cho trong khung cảnh cổ xưa, cụ đồ nho có phạt học tṛ cũng dùng cái ân của kẻ bề trên và cái uy của bậc cha mẹ mà ra roi hay xuống lệnh chứ không thể nào sử dụng kiểu đánh đập tùy tiện, nói lời dung tục và phản ứng “mày bằng ao, tao bằng giếng” của phường vô học, bất tri lư, đá cá lăn dưa như thế được.


Nếu quan tâm theo dơi t́nh h́nh sinh hoạt cụ thể trong nhà trường Việt Nam các cấp trong ba bốn thập niên qua sẽ thấy được phần nào sự chuyển động của một tiến tŕnh giáo dục theo hướng thoái trào.


Việt Nam đă thông báo về sự bắt đầu chuyển động của một cuộc “Cách tân giáo dục để đáp ứng với những yêu cầu của thời đại mới.” Dẫu cho có muộn c̣n hơn không nhưng sự thành bại c̣n tùy thuộc vào việc làm cụ thể của giới cầm quyền có trách nhiệm. Những h́nh thức diễn văn và khẩu hiệu để trang hoàng không thật với chính ḿnh, dối trá nhau và lừa mỵ quần chúng cần phải phân định rơ ràng với thực tâm, thực chất và nhu cầu đổi mới.


Sau đây là một vài ư kiến mà tôi đă viết trên báo Xuân Lao Động năm 2014.


Trong đợt nghiên cứu và thăm ḍ của PEW, một trung tâm nghiên cứu hàng đầu của Mỹ tại Washington DC, trong mùa Xuân 2013 về t́nh h́nh cải cách giáo dục toàn cầu trong thời đại mới th́ đă có 127 trên tổng số 195 quốc gia tiến hành cải cách giáo dục trong thập niên đầu thế kỷ 21. Động cơ và lư do của nhu cầu cải cách và canh tân giáo dục rất đơn giản và hiển nhiên: Thời đại mới có những nhu cầu và thách thức mới. Trong lúc giáo dục là phương tiện cốt lơi để đào tạo con người trong thế hệ mới nên phải chuyển ḿnh theo hướng tiến phù hợp với t́nh h́nh mới là điều kiện tất yếu.


Ba mươi tám năm (1975-2013), thời gian trung b́nh của một thế hệ, vấn đề cải cách giáo dục Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu chuyển động. Nhận định và viễn kiến có thể khác nhau, nhưng nỗi ưu tư và ḷng mong muốn th́ thật tương đồng:


Mối ưu tư chung là chương tŕnh giáo dục và đào tạo Việt Nam chưa phát huy tác dụng cụ thể và thiết thực. Nền giáo dục Việt Nam, cả h́nh thức lẫn nội dung, quá nặng về tính chất “biểu kiến”, nghĩa là dày bề mặt mà mỏng chiều sâu nên không đáp ứng nhạy bén được nhu cầu phát triển và ứng dụng tri thức vào những vấn đề quốc kế dân sinh của toàn đất nước trong thời đại kinh tế thị trường và toàn cầu hóa hiện nay. Những nguyên lư giáo dục đề ra để đối trị cấp thời với hoàn cảnh chiến tranh và t́nh trạng sản xuất tập thể, kinh tế bao cấp trong quá khứ – vô h́nh chung – vẫn c̣n năng lực quán tính tạo ra sức cản nặng nề. Do đó, chức năng sáng tạo và chủ động là xương sống của tinh thần giáo dục lành mạnh không có điều kiện phát huy. Hệ quả khó tránh khỏi là hiện tượng học từ chương, suy tôn bằng cấp, trí thức theo đuôi và tốt nghiệp thiếu khả năng ứng dụng nên không được sử dụng đúng mức.


Mong muốn chung là cần có một cuộc cách tân giáo dục nghiêm cẩn và toàn diện.
Duyệt xét và cải cách chương tŕnh giáo dục cũ. Áp dụng một chương tŕnh giáo dục mới phù hợp với nhu cầu văn hóa, xă hội và giáo dục hiện đại. Tái huấn luyện và đào tạo lực lượng giảng dạy. Cần xây dựng và phát huy một không gian nghiệp vụ lành mạnh với sự giảm thiểu hay tách rời ảnh hưởng và sức ép chính trị trực tiếp trên giáo dục.


Thiết lập quan hệ với các đại học nước ngoài. Mời giáo sư và chuyên viên ưu tú giảng dạy và tăng cường chương tŕnh trao đổi sinh viên quốc tế.


Giới hạn và chỉ đạo chặt chẽ hay hủy bỏ các chương tŕnh học chuyên tu, tại chức. Thành lập những hội đồng giám khảo các ngành chuyên môn ở tầm mức quốc gia để duyệt xét các tiểu luận tốt nghiệp thạc sĩ và luận án tiến sĩ để tránh t́nh trạng tiêu cực lạm phát bằng cấp và hạ thấp giá trị học vị.


Cách tân giáo dục là cải cách hệ thống giáo dục, có can đảm loại bỏ và sửa đổi tất cả những ǵ c̣n vướng mắc để giải quyết nhằm khắc phục những ưu tư và canh tân để đề ra những phương thức đúng đắn nhằm đạt những mong muốn rất cơ bản như đă tŕnh bày ở phần trên. Khuynh hướng cách tân giáo dục Việt Nam là một nhu cầu cấp thiết của đất nước trước những thách thức thời đại và yêu cầu chính đáng mang tính quyết định cho tương lai dân tộc. Vấn đề quá hiển nhiên và đă chín muồi nên im lặng là buông xuôi và đầu hàng, phó mặc cho thói quen và định kiến đóng vai tṛ quyết định. Đại chúng ao ước từ lâu đă đành, nhưng giới lănh đạo cũng bắt đầu lên tiếng. Ngày 31-7-2013, tại hội nghị nâng cao chất lượng giáo dục tại Hà Nội, bà Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan đă lên tiếng rằng “khâu quản lư thi cử và quản lư chất lượng người thầy đă bị buông lỏng cần được chấn chỉnh”. Ngày 19-9-2013, thứ trưởng bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam Nguyễn Vinh Hiển đă thông báo việc hoàn thành sửa dổi dự thảo Đế án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.


Điểm then chốt cần nghi nhận ở dây là lá bùa“Định hướng Xă hội chủ nghĩa.” Đó là một cụm từ tối tăm, mơ hồ, sáo ṃn mang tính bùa chú nặng nề kinh điển hơn là thực dụng. Nếu càng đi sâu vào sự phân tích chi li, càng nhận ra ảo tưởng xa vời của nó. “Định hướng” mà không có chỗ dựa và cũng chẳng có một nội hàm tri thức nào có giá trị thực tiễn làm căn bản cho bước tiến giáo dục trong thời đại mới là một sự lệch hướng hay mất phương hướng mà thôi.


Bản chất của giáo dục nói chung là một hệ thống phương tiện đào tạo và huấn luyện thế hệ trẻ thành những người công dân có năng lực phục vụ, sinh tồn, phát huy và lănh đạo xă hội trong một môi trường văn hóa, chính trị và kinh tế cụ thể nào đó. Bởi thế, mỗi h́nh thái chính trị xă hội có một nguyên lư giáo dục riêng.


Dạy học ở nhà trường Mỹ, tôi không hề nghe ai hô hào cải cách, nhưng chương tŕnh, nội dung và phương tiện giáo dục thay đổi nhanh chóng từng năm học; thậm chí, thay đổi từng học kỳ, học khóa. Nếu có một sự xuống cấp, một hiện tượng thoái trào trong nội dung giáo dục ở cấp thành phố, hay tiểu bang xảy tới là tức thời được đưa ra công luận mổ xẻ và sửa sai ngay. Có lẽ nhờ vậy mà ḍng lịch sử trẻ trung của Mỹ đă đưa chất lượng giáo dục lên hàng ưu thế với 2683 trường đại học năm 2013. Cụ thể là trong số 20 trường đại học được xếp loại hàng đầu thế giới, Mỹ chiếm 17 trường, Anh chiếm 2 trường (Oxford và Cambridge), Thụy Sĩ chiếm 1 trường (Zurich).


Khi c̣n đứng trên bục giảng ở trong nước, nhất là sau năm 1975 khi cả thầy tṛ đều phải lao đao với miếng cơm manh áo, hễ nghe nói đến trí thức nước ngoài, từ Mỹ, từ Pháp, Liên Xô, Nhật Bản, Đại Hàn… về nước, ḿnh vẫn có cái mặc cảm tự ti thua kém. Nhưng đến khi có cơ hội chen vai thích cánh b́nh đẳng với cộng đồng thế giới, cả khi ngồi trong lớp học và lúc đứng trên bục giảng, đă bao lần tôi xúc động với ḷng tự hào dân tộc là dân Việt ḿnh không hề thua kém trí thông minh, óc nhạy bén và nghệ thuật sống c̣n khéo léo, phản ứng quyền biến linh động trong mọi hoàn cảnh so với các dân tộc khác. Tuy nhiên, trong một số lớp học tôi phụ trách có sinh viên Việt Nam mới qua Mỹ du học đều có một khuyết điểm rất lớn là tính thụ động. Các em học hành rất siêng năng, chăm chỉ, làm bài tập ở nhà cũng như ở lớp nghiêm túc nhưng rất hiếm khi có em nào tham gia vào các sinh hoạt kể cả nội khóa và ngoại khóa. Nội khóa th́ âm thầm ôm sách học gạo đạt điểm cao chứ không tham gia sinh hoạt của lớp. Ngoại khóa th́ các em không có khả năng chơi thể thao, âm nhạc, sinh hoạt dă ngoại. Lúc đầu tôi cứ nghĩ sinh viện Việt Nam thụ động là do trở ngại về ngôn ngữ và văn hóa. Nhưng sau khi trao đổi, chia sẻ và phân tích với các em, tôi mới thấy rơ đó là do hậu quả của một chương tŕnh giáo dục c̣n nhiều khiếm khuyết từ trong nước. Trong đó, sự áp đặt và khống chế của những nguyên tắc chính trị lỗi thời, ảo tưởng đă kéo lùi bước tiến của tri thức, giáo dục.


Năm 2011, bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam cho biết là có hơn 100.000 sinh viên Việt Nam từ trong nước đi du học tại 49 nước trên thế giới. Tại Mỹ có 14.888 sinh viên Việt và 90 phần trăm trong số đó là du học tự túc. Con số nầy đang trên đà tăng nhanh. Xin đừng biến đây thành một cuộc “tỵ nạn giáo dục” ồ ạt của thế hệ con em thuộc gia đ́nh quan chức, đại gia tham nhũng, gian thương sống phè phỡn… trên đầu trên cổ người dân lương thiện đang c̣n chịu khó khăn thiếu thốn trăm bề.


Hơn ba mươi năm qua đến hiện tại, các nhà lănh đạo giáo dục Việt Nam luôn luôn định vị hướng đi của nền giáo dục nước nhà phải gắn liền với “định hướng Xă hội Chủ nghĩa”. Với con số 90 phần trăm du học tự túc trong hoàn cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, có vẻ như đây là chỉ dấu của một hiện tượng phát triển nghịch lư và ngược chiều giữa “định hướng Xă hội Chủ nghĩa” và thực tế xă hội (?!).


Thế hệ Chiến tranh Việt Nam của giới đàn anh đang lụi tàn. Thế hệ đàn em hậu chiến đang vươn lên thay thế từng bước trách nhiệm xây dựng và vai tṛ lănh đạo đất nước. Nhưng vấn đề cách tân giáo dục cũng chỉ mới ở mức độ một câu hỏi đặt vấn đề hơn là một câu trả lời có nội dung ứng dụng được. Đă đến lúc cần chấm dứt t́nh trạng nh́n thực tế qua ảo tưởng rồi đem ảo tưởng làm thực tế. Sử dụng mà không tiếm dụng, ứng dụng mà không vô dụng, thực dụng mà không lạm dụng là nguyên tắc dùng người và dùng phương tiện trong giáo dục ngày nay.

Sacramento, mùa Xuân năm 2014
Trần Kiêm Đoàn

 

[1] YouTube
  
          

bút luận : tâm lư - triết học - xă hội