Trần Kiêm Đoàn 

 

THUYẾT PHÁP TỪ BI
 

Trong lịch sử nhân văn khoảng 4.000 năm trở lại, con người đă bước qua những giai đoạn thông tin và truyền thông đại chúng từ thấp đến cao về số lượng; nhưng cũng trong nhiều trường hợp, từ cao đến thấp về chất lượng.

Khoảng bốn thế kỷ trước tây lịch, cao điểm nhất là thời cổ Hy Lạp, hiện tượng thuyết tŕnh, tranh luận công cộng của các triết gia, đạo sĩ, chính khách... đă ngày càng phổ biến. Những đại môn phái du thuyết như Platon, Socrate, Aristote... thời Hy Lạp cổ đă đưa việc thuyết tŕnh công cộng lên thành một nghệ thuật và kỹ thuật nhào nặn cũng như phát huy ngôn ngữ ở mọi cấp độ.

Tại Ấn Độ, thời Đức Phật c̣n tại thế, những đạo sĩ Bà Là Môn và các môn phái Du Già Nguyên Thủy cũng là những nhà thuyết pháp đại chúng, rộn rịp một thời trên những nẻo đường xứ Ấn.

Trong nội bộ sinh hoạt đạo Phật th́ việc nói hay thuyết giảng chuyện đạo cho đại chúng nghe thường được gọi là thuyết pháp.

Đă hơn 70 năm qua, là một người theo đạo Phật theo mẹ từ nhỏ, tôi thấy chưa có thời kỳ nào mà Phật sự thuyết pháp lại diễn ra rộng khắp, quy mô và đông đảo như thời kỳ nầy. Trong quan hệ thông tin hai chiều phát và thu hoặc cho và nhận… th́ hầu như chùa nào cũng có đủ thời khoá: lễ nghi tụng kinh và thuyết pháp. Dù được đào tạo hay trang bị phương pháp Giáo Thọ hay chưa th́ quư Tu sĩ – Tăng Ni, Cư sĩ, nhất là các vị trụ tŕ chùa viện đều vô h́nh chung trở thành là những nhà thuyết pháp thường xuyên. Thông thường, một nhân vật thuyết pháp hay người thuyết pháp vừa đóng vai là một thầy dạy học, vừa là một “nghệ sĩ” tŕnh diễn trên sân khấu. Nghĩa là dạy lư thuyết kinh điển Phật học đă đành, nhưng quan trọng hơn nữa là phương pháp sư phạm và nghệ thuật tŕnh diễn thu hút được quần chúng tới nghe.

Với tầm phát triển tinh xảo của khoa học kỹ thuật ngày nay, phương tiện chuyển tải như hệ thống âm thanh, máy quay h́nh thu phát, các trang mạng xă hội, các điện thoại cầm tay... đang trở thành quá phổ biến, mọi người đều có khả năng và phương tiện thu và phát thường trực trong tầm tay, trong túi áo.

Bên cạnh phương tiện truyền thông quá dễ dàng và phong phú, phổ biến toàn cầu th́ việc c̣n lại quan trọng nhất trong vấn đề thuyết pháp là NGƯỜI THUYẾT PHÁP.

Một vị Tăng Ni hay Cư Sĩ Phật giáo đóng vai tṛ liên hệ chuyện đời, thuyết giảng chuyện đạo, t́m phương hóa giải… nhằm mục đích tạo chuyển biến giải khổ, cầu vui và làm sao tạo được sự thuyết phục biện giải cụ thể nơi người nghe thật là cả một yêu cầu không dễ dàng hay đơn giản như một cuộc họp mặt b́nh thường, gặp nhau nói chuyện mưa nắng, vui buồn.

 

Thuyết pháp từ bi

Gần đây, một số quư anh chị em cựu huynh trưởng, huynh trưởng GĐPT và cư sĩ Phật tử ở San Jose giới thiệu cho nhau một video về cuộc thuyết pháp của một vị Thầy mà các bạn ấy cho là: thuyết pháp từ bi. Có thể nói h́nh dung “thuyết pháp từ bi” là một nhóm từ hay để làm biểu tượng cho cuộc pháp thoại hoàn măn mang được nhiều lợi lạc cho cả diễn giả, hành giả và thính giả.

Theo dơi cuộc thuyết pháp của Thầy nói về “Đạo giữa Đời thường” người nghe b́nh tâm thấy được những ǵ là hương lành Từ Bi trong đó?

Nh́n về nội dung cũng như h́nh thức th́ bài thuyết pháp nói về đề tài “Đi t́m hạnh phúc giữa cuộc đời” không có ǵ màu mè, cuốn hút hay những hiện tượng mới lạ, độc đáo hơn rất nhiều bài thuyết pháp khác đă được “post” lên các trang mạng xă hội.

Đêm nay về nghe lại, tôi như khám phá ra một điều “đặc biệt” ở bài thuyết pháp là toàn khung cảnh cũng như ngôn từ, chất giọng và nội dung bài pháp thoại của Thầy tuy không có ǵ “thiện xảo” hơn các bài giảng của quư Thầy, Sư Cô khác. Nhưng có 3 điều khiến tôi tán thán và thanh thoát bị “chinh phục” từ bài thuyết pháp của Thầy là:

1- Vắng bóng cái tôi đáng ghét.

Thật ra, cái “Tôi đáng ghét” là tên canh cửa sừng sơ nhất trong sự giao tiếp hai chiều. Một bài nói chuyện, nhất là nói pháp mà mở màn đă thấy cái tôi đứng từ cửa ngơ vô tới tiền đ́nh là một phần ba cảm t́nh của người nghe đối với diễn giả bị ghét oan! Nào là: tôi tiến sĩ, tôi giảng sư, tôi viện chủ, tôi trưởng ban, tôi tuyên bố, tôi nhận thấy… là cả một đội canh tuần gác cổng chưa thấy chủ nhân mà chỉ thấy toàn gươm giáo.

Ở đây, trong suốt bài pháp, hầu như vắng bóng cái tôi của Thầy. Người nghe có cảm tưởng như cái ngă sở, ngă chấp, ngă mạn của Thầy đă được chế ngự và nhốt kín. Cái Tôi của Thầy đă thuần hóa (thánh hoá?) để tô điểm cho lời nói pháp của Thầy nhẹ nhàng bay cao. Bởi không có chủ thể khống chế làm cho khung cảnh bị dính mắc vào cái Tôi (ngă mạn) đáng ghét nên lời pháp của thầy thông thoáng đi vào từng ngơ ngách tâm hồn của người nghe.

Sự vắng bặt những xác định hay gợi ư, khoe mẽ cá nhân như say sưa nói về kinh nghiệm, học vị, chứng đắc... của ḿnh đă làm cho lời của Thầy thoát ṿng tục luỵ phù phiếm mà không ít th́ nhiều, quư vị lên diễn đàn thường mắc phải.

 

2- Rỗng rang hỷ xả.

“Rỗng rang thanh tịnh ắt an định nội tâm!”

Cũng như nhiều cuộc pháp thoại khác, Thầy cũng phải vận dụng những sự kiện lịch sử và xă hội trong nhiều hoàn cảnh nghiệt ngă. Đồng thời, nhận định và phủ nhận hay chấp nhận những con người và hành vi tương ứng thường được xem là ngọn lửa thử vàng cái bản lĩnh và đạo lực của nhà thuyết giảng. Thầy không đặt con người và hành tung của họ lên đấu trường tương tác tay đôi để khen chê, nhiệt t́nh ca ngợi hay chua chát mà có vẻ như luôn luôn dang tay ḿnh nắm lấy tay người và đặt ḿnh trong vị thế của các nhân vật thiện cũng như bất thiện. Không đánh đổ, tiêu diệt mà hóa giải, hồi phục mới là ánh sáng của Từ Bi. Lời nói như từ tâm phát ra, không qua những cong quẹo gập ghềnh của theo gót và thị phi mới đúng là chánh ngữ.

 

3- Uy nghi trong ngôn ngữ.

Uy nghi trong ngôn ngữ khác với cách kiểu nói lạnh lùng, đanh thép, xuống lệnh hay biểu tỏ quyền uy. Trong ngôn ngữ nhà Phật, lấy pháp uy nghi là trọng. Nhưng uy nghi là dùng lời nói như một phương tiện hợp với hoàn cảnh, vị trí phù hợp với tinh thần Bát Chánh Đạo, Lục Ḥa và ái ngữ. Im lặng sấm sét như chánh pháp. Tiếng vọng uy vũ như hải triều âm, sư tử hống. Nụ cuời trọn đầy ư nghĩa sâu xa như niêm hoa vi tiếu… Ngôn ngữ nói cho cùng là phương tiện chuyển tải những thông điệp giữa hai đối tượng nói và nghe.

Thuyết pháp hay diễn thuyết tự bản chất là dùng lời nói để thuyết phục người nghe và xây dựng luận điểm ḿnh muốn nói ra với một mục đích nào đó. Do vậy, nhiều vị diễn thuyết đă dùng những lư luận, phân tích để tấn công nhằm phủ định hay bẻ găy luận điểm của người khác bằng lời nói gay gắt phê phán, cười cợt, chụp mũ, dán nhăn hiệu. Đấy là tiểu xảo ngôn ngữ của lối hùng biện duy lư phương Tây chứ không phải tinh thần uy nghi trong ngôn ngữ chân ngôn của nhà Phật.

Trong bài thuyết pháp của Thầy, có đủ những mẫu chuyện đạo, đời, xưa nay minh họa. Nhưng những cảm xúc vui buồn do chính ư nghĩa của câu chuyện nói lên chứ không phải Thầy “cười trước cái cười của thiên hạ hay trĩu giọng buồn trước cái buồn của nhân vật ví von”. Thầy tạo cảm xúc mà không dấy động cảm xúc bằng thân ngữ (body language).

Nghe hết bài Thầy giảng, quả nhiên tôi thất tâm đắc với nhận xét: “Thuyết pháp từ bi” bởi cái tâm Thầy an tịnh như một ḍng song trong vắt. Lời giảng pháp của Thầy phát ra như tiếng nói khi trầm khi lắng của Bà mẹ Thiên nhiên.

Khi nói đến khái niệm Thuyết pháp Từ bi, có bạn hỏi tôi thế th́ trường hợp Robot (người máy) Phật giáo Android Kannon của Nhật sáng chế có thể thuyết pháp kinh tạng Phật pháp bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau th́ sao. Robot không có Ngă, luôn luôn rỗng rang hỷ xă, chính xác uy nghi trong ngôn ngữ th́ có đạt được chất lượng “thuyết pháp từ bi” không?

Tôi đă xin thưa: Từ bi là cảm xúc từ trái tim, rỗng rang là trạng thái từ cân năo, uy nghi ngôn ngữ là sự kết hợp của trí tuệ và sự thấu cảm nhân văn. Tất cả những tinh túy tạo ra ḷng từ bi, niềm thấu cảm trí tuệ và sự uy nghi ngôn ngữ đều hoàn toàn không t́m thấy từ nơi con Người Máy Kannon. Thuyết pháp Robot là một hiện tượng thóc mách kỹ thuật, là sự ứng dụng thoái trào trong sinh hoạt hoằng dương Phật Pháp bởi ngôn ngữ là phương tiện tạm thời. Tạm dùng tiếng nói để hướng đến tầm cao diệu lư của đạo Phật là rỗng lặng vô ngôn. Robot sẽ không bao giờ tới được “Kim Cang vô tự thị chân kinh” (Kim Cang chân nghĩa là kinh không lời)!
 

Một hướng thuyết pháp Từ Bi

Là một thầy giáo dạy Ngữ Văn bậc trung học ở Việt Nam và đại học ở Mỹ, tôi hết ḷng cảm thông cũng như chia sẻ sự khó khăn và nhạy cảm của người thuyết giảng trước quần chúng. Người có kiến thức rộng, sở học cao chưa hẳn là người nói hay, nói giỏi. Tuy nhiên, lịch sử ngữ học chứng minh rằng: Tài hùng biện là một thiên khiếu nhưng đồng thời nhà hùng biện cũng là kết quả của một quá tŕnh cần mẫn học hỏi và khổ luyện lâu dài. Bởi vậy, tôi có cái biên kiến là rất ngưỡng mộ những người thuyết tŕnh hay, các vị tu sĩ (của bất cứ tôn giáo nào) giảng đạo thu hút hay thuyết pháp tài năng.

Đă nhiều năm qua, trong 37 năm ở Mỹ, tôi thường ráng sắp xếp cho ḿnh mỗi năm ít nhất cũng dự được một vài khóa tu học hay tham gia các cuộc thuyết tŕnh về những đề tài thích hợp. Và tính đến nay cũng đă hơn mười lần, tham gia thường trú hay bán trú các khóa tu học ở Thiền viện Diệu Nhân trong các khóa tu theo mùa. Năm nay, tôi tham dự bán trú khóa Tu Học Mùa Thu năm 2019. Tôi vẫn “chuẩn bị ưu tiên” cho các buổi pháp thoại trong các khóa Tu Học. Được theo dơi các buổi thuyết pháp của các Ni Sư tu theo Thiền Tông Việt Nam, thuộc phái Trúc Lâm Yên Tử là cả một nguồn vui tinh thần và hạnh phúc tín tâm.

Sáng nay, thứ Năm 3-10-2019, tôi dậy lúc 3 giờ rưỡi sáng, uống một b́nh nước trà xanh Bắc Thái thường lệ như mọi sớm mai cho tỉnh người và tới 4:30 am, lái xe một ḿnh lên Thiền Viện Diệu Nhân ở thành phố Rescue, California. Nhà tôi ở cách chùa 55 miles (94 km), cũng ngót nghét xa gần bằng từ Huế vào Đà Nẵng và lái xe cũng mất gần 1 giờ trên xa lộ 99 N và 50 E South Lake Tahoe.

Đêm gần sáng mùa Thu lạnh (49 độ F = 9.5 độ C), xe chạy quá 80 miles một chút (non 130 Km/giờ). Tôi phải ghi xuống tỉ mỉ như thế v́ càng lên hướng Bắc, bốn bề càng vắng lặng, nên tôi rất “hiện sinh” với chiếc xe, tay lái và con đường. Tôi nghĩ đến các Ni Sư thiền viện Diệu Nhân và quư Ni Sư từ Việt Nam mới sang hôm qua. Tôi đă được nghe quư Ni Sư thuyết pháp nhiều lần; nhưng lần nầy tôi mỉm cười tẩn mẩn với ư nghĩ “thuyết pháp từ bi”.

 

 

Quư Ni Sư viện chủ và phó viện chủ thiền viện Diệu Nhân: Ni sư Thuần Tuệ và Ni sư Thuần Bạch là hai vị thuyết pháp đă tạo được ảnh hưởng tích cực trong ḍng hoằng pháp hải ngoại. Ni sư Thuần Bạch là một nhà nghiên cứu và dịch giả Phật học với trên 10 tác phẩm biên khảo và dịch thuật đă xuất bản. Đặc biệt, Ni sư Thuần Tuệ được cả hai giới Phật tử già và trẻ - nói tiếng Việt và tiếng Anh quư mến gọi là nhà “thuyết pháp từ bi” v́ bên cạnh những phẩm chất nêu trên, Ni sư c̣n một ưu điểm mà các vị thuyết pháp khác thường không quan tâm là “giáo án”, là bài soạn cẩn trọng cho đề tài thuyết pháp.

 

Các Ni sư - Những vị “thuyết pháp Từ bi” trong khoá Tu Học Mùa Thu 2019 tại Thiền viện Diệu Nhân, Rescue – California – H́nh ảnh khai mạc khóa tu.
 

Khoá Tu Học Mùa Thu Diệu Nhân hôm nay có duyên lành được quư Ni sư Như Đức, Hạnh Huệ, Hạnh Như, Giải Thiện... là những giáo thọ, giảng sư thời danh khả kính trong sinh hoạt hoằng pháp của Thiền tông Việt Nam tham dự và thuyết pháp.

Đến thiền viện Diệu Nhân lúc 5:20 sáng, đúng lúc buổi tọa thiền buổi sáng bắt đầu, tôi t́m được một chỗ để đặt bồ đoàn tọa cụ cho cá nhân ḿnh. Thiền đ́nh đă chật ních thiền sinh. Sáu mươi phút tĩnh tâm thiền tọa, chỉ cần vài phút giữ cho ư nghĩ và xúc cảm như như rỗng lặng th́ cũng đă đạt lắm rồi. Tôi có cảm tưởng như ḿnh cảm ứng được với nguồn năng lượng của đại chúng. Xả thiền, 06:30 sáng trời c̣n sương mù. Buổi tọa thiền kết thúc. Khoá Tu học Mùa Thu khai mạc. Thiền cũng là một sự khai mở… luôn luôn khởi sự mà không bao giờ chấm dứt. Thuyết pháp từ bi cũng thế: Mở ra cánh cửa Thiền không khép lại cho tới khi qua được Bờ Bên Kia.

 

TV Diệu Nhân, Rescue California, Thu 2019

Trần Kiêm Đoàn


 

tôn giáo - phật giáo

trankiemdoan.net