Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) trong báo cáo thường niên mới đây đã đưa ra đề nghị “đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo”.
Lên tiếng từ phía chính quyền Việt Nam về vấn đề này, ngày 19-3-2026, người phát ngôn Bộ Ngoại giao, bà Phạm Thu Hằng đã lên tiếng: “Việt Nam kiên quyết bác bỏ những đánh giá nêu trong báo cáo thường niên năm 2026 của Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ. Đây là những đánh giá không khách quan, không chính xác và dựa trên những dẫn chứng có dụng ý xấu nhằm vào Việt Nam.”
Theo truyền thông dòng chính của Nhà nước: “Việt Nam khẳng định chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013, trong hệ thống pháp luật của Việt Nam và được tôn trọng trên thực tế. Công dân Việt Nam không ai bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.”
Là một Phật tử 81 tuổi, đang sinh sống tại Hoa Kỳ đã 44 năm qua và cũng có dịp thường xuyên về thăm quê hương, tôi có dịp sinh hoạt tại các chùa chiền tu viện Phật giáo trong cũng như ngoài nước trực tiếp hay gián tiếp thông qua môi trường sinh hoạt, tu học, truyền thông sách báo… trước và sau 1975, xin được thử nhìn công bằng giữa hình thức và bản chất tôn giáo – đặc biệt là Phật giáo – tại Việt Nam.
Có những câu hỏi không dễ trả lời bằng một mệnh đề đúng hay sai đơn giản. Vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam là một trong những câu hỏi như thế.
Nhìn từ bên ngoài, người ta có thể ngạc nhiên: sau năm 1975, hàng loạt chùa chiền, nhà thờ, tu viện được xây dựng hoặc trùng tu quy mô lớn; các lễ hội tôn giáo diễn ra ngày càng đông đảo, thậm chí mang tầm vóc quốc gia. Những hình ảnh ấy dường như cho thấy một đời sống tôn giáo phong phú, thậm chí “nở rộ.”
Thế nhưng, cũng chính trong cùng một thời điểm, Việt Nam lại bị một số tổ chức quốc tế xếp vào danh sách các quốc gia “chưa bảo đảm đầy đủ tự do tôn giáo.” Vậy nghịch lý nằm ở đâu?
Hai hay nhiều cách hiểu khác nhau về “tự do tôn giáo”
Cốt lõi của vấn đề nằm ở chỗ: tự do tôn giáo không chỉ là sự hiện diện của cơ sở vật chất hay lễ hội, mà còn bao gồm những yếu tố sâu hơn:
Quyền tin hoặc không tin
Quyền hành đạo độc lập
Quyền tổ chức, truyền bá và phát triển giáo hội
Quyền không bị kiểm soát quá mức bởi thế lực cầm quyền
Trong khi đó, cách nhìn phổ biến trong nước thường nhấn mạnh vào khía cạnh hữu hình:
Có chùa, có nhà thờ, có lễ hội… tức là có tự do!
Còn cách nhìn của nhiều tổ chức quốc tế lại nhấn mạnh vào khía cạnh thể chế và quyền tự chủ:
Có được hoạt động trong tầm nội bộ mà không cần xin phép hay chịu sự quản lý chặt chẽ từ phía quyền lực bên ngoài hay không?
Hai cách hiểu này không hoàn toàn phủ nhận nhau, nhưng đặt trọng tâm khác nhau, dẫn đến những kết luận khác nhau.
Thành tựu không thể phủ nhận
Một cách công bằng, cần nhìn nhận rằng:
Đời sống tín ngưỡng tại Việt Nam đã phục hồi mạnh mẽ sau thời kỳ khó khăn trước đó. Nhiều công trình tôn giáo lớn được xây dựng: Chùa, nhà thờ, thánh thất… với quy mô ngày càng rộng. Các đại lễ như Phật Đản, Giáng Sinh, lễ hội truyền thống… được tổ chức trang trọng và bề thế (thay cho cụm từ “hoành tráng” đã thành mòn nhẵn và sáo rỗng) thu hút hàng triệu người tham dự.
Điều này phản ánh một thực tế, rằng: Nhu cầu tâm linh của người dân được thừa nhận và có không gian biểu đạt.
Ở góc độ xã hội và nhân bản đó là một bước tiến đáng kể.
Những giới hạn gây tranh luận
Tuy nhiên, các tổ chức quốc tế và một số nhà quan sát cho rằng vấn đề không nằm ở “có hay không,” mà ở mức độ tự do.
Một số điểm thường được nêu ra:
Hoạt động tôn giáo phải đăng ký và chịu quản lý hành chính. Cụ thể là vừa ở trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một tổ chức vận động quần chúng với cơ chế tổ chức thiên về đăng ký, giám sát và điều phối, hơn là khuyến khích sáng kiến nội sinh, nuôi dưỡng sinh khí tâm linh, hay mở rộng không gian tự chủ của các cộng đồng tôn giáo.
Việc phong chức, bổ nhiệm, hoặc tổ chức thuần túy tôn giáo mang tính chất nội bộ của giáo hội đều phải có sự chấp thuận và cho phép của Nhà nước.
Một số nhóm tôn giáo độc lập, cụ thể như Giáo hội Việt Nam Thống Nhất, một tổ chức gồm 13 bộ phái Phật giáo thành lập vào cuối năm 1963 gặp khó khăn trong việc hoạt động công khai.
Sinh hoạt tôn giáo thường bị nhìn qua lăng kính an ninh và chính trị.
Từ góc nhìn này, một hệ luận tất nhiên phải đến: Có sinh hoạt tôn giáo, nhưng chưa hoàn toàn có tự do tôn giáo theo nghĩa đầy đủ của quyền dân sự hiện đại.
Một cách nhìn dung hòa và khách quan:
Có lẽ cách tiếp cận hợp lý nhất giữa thế quyền và giáo quyền tại Việt Nam hiện nay không phải là phủ nhận lẫn nhau, mà là nhìn nhận rằng:
Việt Nam có tự do tôn giáo ở mức độ thực hành xã hội.
Nhưng chưa đạt đến mức độ tự do và khẳng định giáo quyền theo tiêu chuẩn quốc tế.
Nói cách khác là Việt Nam hiện nay có “không gian tôn giáo,” nhưng chưa thực sự có “tự do tôn giáo trọn vẹn.”
Hướng đi nào thích hợp cho tương lai?
Một đối thoại xây dựng có thể bắt đầu từ hai phía:
Từ phía trong nước:
Tiếp tục mở rộng không gian tự chủ cho các tổ chức tôn giáo. Giảm bớt những thủ tục hành chánh không cần thiết. Xây dựng niềm tin rằng tôn giáo không đối lập với ổn định xã hội.
Từ phía quốc tế:
Cần tìm hiểu rõ hơn bối cảnh lịch sử và văn hóa đặc thù của Việt Nam. Tránh áp đặt một mô hình duy nhất về thế quyền và giáo quyền cho mọi quốc gia.
Chùa to, nhà thờ lớn là hình tướng bên ngoài. Tự do đức tin và phương tiện thể hiện đức tin đó mới là tâm, là nội dung cốt lõi bên trong của tôn giáo.
Một xã hội trưởng thành và lành mạnh không chỉ được đo bằng những công trình đồ sộ, mà còn bằng mức độ an nhiên trong lòng người khi sống với niềm tin của mình.
Vì vậy, thay vì hỏi:
“Việt Nam có hay không có tự do tôn giáo?”
Có lẽ nên hỏi một cách sâu sắc hơn:
“Việt Nam đang ở đâu trên con đường đi đến một tự do tôn giáo vừa hài hòa với truyền thống, vừa tương thích với các giá trị phổ quát của nhân loại?”
Có những dấu mốc cần được định lại. Có những lời được sinh ra từ một thời,
và có những lời cần đi cùng nhiều thời. Điển hình như khẩu hiệu dành cho Đạo Phật Việt Nam từ sau khi Giáo hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 là:
“Dân Tộc – Đạo Pháp – Xã hội Chủ nghĩa”
Mang trong mình dấu ấn của lịch sử,
của một giai đoạn cần kết nối, cần ổn định, cần cùng nhau bước qua những khúc quanh.
Nhưng đạo vốn không dừng lại ở một thời.
Đạo đi qua thời gian như dòng nước,
lặng lẽ mà bền lâu.
“Dân tộc” là gốc rễ.
“Đạo pháp” là con đường.
Còn những danh xưng của xã hội như Xã Hội Chủ Nghĩa dẫu cần thiết thì vẫn chỉ là chiếc áo của một giai đoạn.
Khi chiếc áo trở nên chật, không phải thân thể có lỗi, mà là lúc cần một chiếc áo rộng hơn. Có lẽ điều mà nhiều người mong mỏi không phải là thay bỏ,
mà là mở ra để Đạo được thở bằng chính hơi thở của mình,để con người gặp nhau không qua danh xưng, mà qua tấm lòng nhân hậu và tri thức nhân văn. Bởi sau cùng, điều còn lại không phải là chủ thuyết mà là cách con người đối xử với nhau.
Có những khẩu hiệu sinh ra từ lịch sử nhưng không phải khẩu hiệu nào cũng đi trọn với tương lai.
Khi “Đạo pháp” đứng cạnh “Dân tộc,” đó là truyền thống.
Nhưng khi bị đặt trong một khuôn khổ ý thức hệ CNXH, đạo có thể mất đi phần tự do vốn có. Điều con người cần không chỉ là một chủ thuyết, mà là một không gian để sống với niềm tin trung thực và lòng nhân ái chan hòa.
Nên chăng, đã đến lúc khẩu hiệu của Phật giáo Việt Nam trong nước hiện nay là “Dân Tộc – Đạo Pháp – Chủ Nghĩa Xã Hội” có thể được suy nghĩ lại theo hướng rộng mở và bao dung hơn, như:
“Dân Tộc – Đạo Pháp – Giác Ngộ”
hoặc
“Dân Tộc – Đạo Pháp – Nhân Văn”.
Đây không phải là sự thay đổi để phủ nhận quá khứ, xét lại quyền lực mà là một bước điều chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu của hiện tại: hợp pháp với bối cảnh, hợp tình với xã hội, và hợp lý với cơ chế vận hành.
Khi những yếu tố vốn được xem là khác biệt có thể tìm thấy điểm gặp gỡ trong tinh thần đối thoại và tôn trọng lẫn nhau, thì đó không còn là một nghịch lý, mà là một tiến trình chuyển hóa cần thiết và có ý nghĩa.
Và ở tuổi 81, tính đơn vị thời gian đời mình bằng NGÀY, tôi mong thấy được đất nước Việt Nam mình sẽ không còn ở giữa “song đề nghịch lý” bởi sát na là một phần nghìn cái chớp mắt nhưng cũng có thể là muôn trùng nội kết thời gian.
Sacramento 22-3-2026
Trần Kiêm Đoàn
