Trại vô thần (phần 1)

Đầu mùa Xuân 2013, được thư liên lạc của ban tổ chức Trại Vô Thần (Camp Quest) ở Grass Valley, California mời đến sinh hoạt với trại vào mùa Hè, tôi hơi ngạc nhiên và sau đó gọi hỏi với vị trưởng ban tổ chức là tôi có tiêu chuẩn hay thành tích gì trong lĩnh vực “vô thần” nầy mà lại được mời và sẽ đóng vai trò gì trong đó. Người có trách nhiệm trả lời rằng, vì tôi là người theo đạo Phật, làm việc gần hai chục năm với chương trình Bảo vệ Thanh thiếu niên (CPS) của chính phủ và dạy học ở trường đại học Mỹ. Họ muốn mời tôi đến thuyết trình (chia sẻ và trao đổi thì đúng hơn) với các trại sinh về quan điểm cho rằng: “Phật giáo là một tôn giáo Vô Thần” – (Atheist Religion.) Cảm thấy đề tài cũng hay hay, là lạ, tôi nhận lời với ước mong thầm kín là có dịp học hỏi những điều mới lạ về mặt tư tưởng tôn giáo.

Là một người theo đạo Phật và cũng có lúc tham gia với các đạo tràng hay tự mình tìm tòi tu học ở mức độ “tùy duyên”, tôi hơi bối rối khi nhận lời tham dự và nói chuyện với một trại sinh hoạt Vô Thần. Sở dĩ tôi viết hoa nhóm chữ vô thần vì đây cũng là một hình thái “tôn giáo” có tín điều ngược lại với một hệ thống tôn giáo cổ truyển và quen thuộc. Nghĩa là không tin có một Thượng Đế hay một đấng thần thánh nào cả. Tuy chẳng dính dáng gì với quan điểm phi tôn giáo của Karl Marx “Die Religion … ist das Opium des Volkes” (Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng), nhưng những người vô thần (atheist) chủ trương đứng ngoài tôn giáo và không tin có một đấng Sáng Tạo toàn năng uyên nguyên của vũ trụ muôn loài.

Nếu đã có người tin vào sự hiện diện của thần thánh thì ngược lại, phải có người không tin vào thần thánh là lẽ tự nhiên trong quá trình suy luận của những “cây sậy có tư tưởng”. Do đó, lịch sử vô thần cũng đồng thời với lịch sử tôn giáo chứ không cần phải đợi đến thế kỷ 19, khi Marx lên tiếng “tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sanh bị áp bức” thì khuynh hướng vô thần mới được… khai thị (!)

Sáng nay khi vừa bước tới cổng “Trại Vô Thần”, phản ứng tâm lý tức thời của tôi là mang tâm trạng đang đi vào một thế giới khác. Vốn lâu nay đã quen bước đi giữa một tập thể xã hội mà mọi người chẳng có ai quan tâm đến nếp nghĩ tinh thần hay niềm tin tôn giáo của người kia, nay đến “giang sơn” của những người vô thần, tôi bỗng cảm thấy hơi e ngại. Thuở nhỏ, khi tôi đuợc mẹ cho đi học trường Đạo thì theo các Cha, Ma-Xơ lễ Chúa; khi quy y đạo Phật theo truyền thống gia đình thì theo các Thầy, Sư Cô lễ Phật. Lúc nào tôi cũng cảm thấy như có đấng vô hình đâu đó trên đầu trên cổ để tin kính và làm nơi nương tựa cho tinh thần nhỏ bé và yếu đuối của mình. Bây giờ vào thế giới riêng của những người Vô Thần, không Chúa, không Phật, không thần, không thánh đứng ở đâu cả, tôi có cảm giác tức thời là không gian trên đầu mình bao la và trần truồng chi lạ. Tôi đâm ra hụt hẫng. Nỗi lo canh cánh bên lòng là mỗi bước đi hay lời ăn tiếng nói của mình có gì sai phạm với những người anh em riêng một góc trời “dị giáo” này chăng?!

Khi Alan Harris, người quản lý toàn trại tuổi chừng 40 niềm nỡ bắt tay, tôi mới có dịp tươi cười bắt tay chào hỏi ban quản lý trại và đưa mắt nhìn quanh khung cảnh toàn trại. Nhìn những nhóm trẻ đang hát hò, nói chuyện hay chơi trò chơi dưới những tàng cây xanh làm tôi nhớ những cuộc cắm trại hè bãi trường trên đồi Từ Hiếu “mới đó” mà đã hơn 50 năm qua rồi. Trước hết, tôi cố tìm những nét “vô thần” trong cung cách, tiếng cười, giọng nói của các trại sinh nhưng chỉ thấy đám tuổi trẻ hồn nhiên và trẻ trung tươi mát. “Thì ra họ cũng như mình!” Tôi lẩm bẩm một cách ngây thơ có lẽ tại vì người ta chỉ khác nhau về viễn kiến; còn thành kiến và định kiến thì tuổi nào cũng đều bị đóng khung trong giới hạn nhỏ hẹp như nhau.

Trước khi lên hội trường nói chuyện chung với các em trại sinh, huynh trưởng (counselors-in-training) và phụ huynh có con em đang nhập trại, tôi sinh hoạt với từng nhóm trại sinh. Thời tuổi trẻ, tôi đã quen sinh hoạt thanh niên với tổ chức Hướng Đạo, Gia Đình Phật Tử và gần 20 năm làm việc với tuổi trẻ ở Mỹ nên đã hội nhập vào nếp sinh hoạt chung của trại một cách tự nhiên và nhanh chóng.

Trại Vô Thần Camp Quest nầy quy tụ thanh thiếu niên tuổi từ 8 đến 17. Mỗi cá nhân phải đóng 597 đô-la cho trại phí trong một tuần lễ. Câu cổ động treo ở cổng trại là: “Đừng tin ở Thượng Đế. Hãy tham gia vào Hội.” (Don’t believe in God. Join the Club.)

Khi họp mặt chung trong phòng hội, như thường lệ, tôi để dành 10 phút đầu cho phần trao đổi, tìm hiểu “hâm nóng” mối quan hệ giữa trại sinh và người được mời nói chuyện.

Câu hỏi đầu tiên trại sinh dành cho tôi là:

“Anh theo tôn giáo nào?”

Khi nghe tôi đáp: “Phật giáo.” Liền đó, một trại sinh lớn tuổi nhất trong nhóm, tự xưng tên là Alan Cruz, hỏi:

“Có phải Phật giáo là một tôn giáo vô thần không?”

Tôi hỏi lại:

“Em định nghĩa tôn giáo là gì?”

Người đó đáp ngay:

“ It’s the belief in and worship of a superhuman controlling power, esp. a personal God or gods.” (Tôn giáo là có đức tin và thờ phụng đấng siêu việt toàn năng như Thượng Đế hay các vị thánh thần.)

Tôi giải thích:

“Phật giáo là một tôn giáo không theo định nghĩa kiểu phương Tây như thế. Đạo Phật không tin vào khái niệm có một đấng toàn năng siêu việt sáng tạo muôn loài như Thượng Đế. Tuy nhiên, phương Đông chúng tôi có cách định nghĩa khác về tôn giáo, rằng: ‘Tôn giáo là sự tôn trọng một hệ thống lý thuyết. Lý thuyết này đã được người giác ngộ, như đức Phật Thích Ca chẳng hạn, thuyết giảng làm cho con người hiểu rõ và tình nguyện thực hành để được an lành trong cuộc sống và cuối cùng được giác ngộ như đức Phật.’ “

Có nhiều tiếng reo mừng rỡ dễ dãi:

“Bravo, đạo Phật không tin Thượng Đế sáng tạo muôn loài. Đạo Phật không phải là tôn giáo. Người theo đạo Phật cũng là vô thần như chúng ta đây nè!”

Tôi trả lời ngay, có lẽ làm cho các em cụt hứng:

“Các em, không đúng! Đạo Phật là một tôn giáo hay phải nói đúng hơn là một ‘siêu tôn giáo.’”

Trước vẻ mặt hơi ngỡ ngàng của mấy em, tôi cố giải thích cho rõ hơn bằng cách gắng tìm những từ ngữ đơn giản, dễ hiểu hợp với trình độ trại sinh nhưng khó quá. Đem ná bắn chim ra đuổi cọp e không xong. Nhưng đã cỡi cọp rồi thì cũng phải cố gắng chứ không lẽ lại cười trừ với mấy em đang nhiệt tình muốn nghe, để biết.

Tôi trình bày rõ hơn ý mình:

“Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 20 tôn giáo lớn có tín đồ từ 2 tỷ cho đến 1 triệu người và khoảng 350 giáo phái. Nhưng nhìn chung, mục đích của tôn giáo nào cũng chỉ có ba điều: Thứ nhất là cần được giải thích để hiểu ai đã tạo ra sự sống và khi chết đi về đâu. Thứ hai là phải sống như thế nào cho hay cho đẹp khi còn sống. Thứ ba là có một nơi yên nghỉ an lành sau khi chết. Trong khi tôn giáo nào cũng tôn thờ một đấng chí tôn theo một cách gọi riêng như Thượng Đế, Phạm Thiên, Vua Trời, Toàn Năng hay Allah… thì riêng Phật giáo không chấp nhận một hình tượng tuyệt đối đầu tiên và cuối cùng như thế vì đức Phật thấy được cái Tánh Thật của tất cả mọi sự là Rỗng Không. Không có bất cứ một sự hay một vật nào tự nó sinh ra nó và tồn tại riêng biệt cả. Tất cả muôn loài, muôn vật đều do các điều kiện, hình thái, hoàn cảnh gặp nhau, tụ lại với nhau mà thành…”

Vốn đã nhiều năm quen quan sát phản ứng nhận thức của đối tượng nghe mình từ trên bục giảng, tôi thấy rõ dấu hiệu bối rối, không hiểu của các trại sinh hiện ra trên ánh mắt mù mờ, dò hỏi. Khái niệm “Tánh Không, Rỗng Lặng” mà dịch ra tiếng Anh là “Voidness, Emptiness hay Nothingness” ; hoặc “Duyên” mà dùng “Condition, circumstance…” thì thật trừu tượng và khó hiểu đối với thế hệ trẻ. Tôi đổi sang phương pháp “thính thị” theo lối ẩn dụ, đem hình tướng mô tả để giải thích khái niệm bằng cách lấy vụ “9/11” ở Mỹ mà ai cũng biết để giải thích cho bản chất vô thường, vô trụ và quá trình vận hành khách quan, tất yếu, tự nhiên của Tánh Không và Duyên Khởi:

“Này, bây giờ các em nhắm mắt tưởng tượng cách đây 14 tỷ năm khi vụ nổ Big Bang xảy ra thì vũ trụ xuất hiện, rồi quả đất chúng ta mới bắt đầu thành lập khoảng đâu 4, 5 tỷ năm gì đó. Lúc đầu là một cục lửa, sau nguội dần thành đất đá, sông biển. Lúc đó New York là gì và ở đâu? Hoàn toàn chẳng có dấu vết gì gọi là New York cả phải không? Rồi đến giống người đầu tiên xuất hiện khoảng 200 nghìn năm trước ở châu Phi. Dấu vết con người đầu tiên có mặt ở châu Mỹ từ hơn 10 nghìn năm trước. Năm 1492 Christopher Columbus mới biết đến châu Mỹ mở đầu thời kỳ cho chúng ta khắp thế giới tới định cư ở châu Mỹ như hôm nay và New York mới ra đời cách đây chừng 250 năm. Hai nhà lầu Trung Tâm Thương Mãi Thế Giới xây dựng năm 1970 và bị quân khủng bố al-Qaeda phá hủy năm 2001. Rồi tòa nhà mới One World Trade Center xây dựng lại trên chỗ đất đổ nát cũ. Và, tưởng tượng chừng 100 năm, 1000 năm nữa New York sẽ là gì? New York có còn không và chúng sẽ là gì, sẽ về đâu, đi đâu? Đi một vòng trải qua chục lần biến đổi của New York để thấy rằng New York, Toà Nhà Thương Mãi chỉ là một tên gọi rỗng không từ lúc nầy hay lúc khác chứ thật chẳng có một New York, một Tòa Nhà Thương Mãi tự nó sinh ra và tồn tại mãi mãi. Thực chất của nó là có mà không như ánh chớp, biến hiện không ngừng. Sự biến hiện của hình tướng mà ta thấy nhanh hay chậm và như thế nào là do những điều kiện và hoàn cảnh hợp nhau lại mà thành. Như gặp điều kiện thuận và hoàn cảnh tốt thì Trung Tâm Thương Mãi được xây dựng nên. Gặp điều kiện nghịch và hoàn cảnh xấu thì bọn khủng bố al-Qaeda tụ tập nhau mà phá hủy. Như vậy, Trung Tâm Thương Mãi ở New York chỉ xuất hiện bằng cái hình tướng giả tạm và biến đổi, mất còn liên tục. Nó xuất hiện và mất đi có thể chầm chậm như mây trời lang thang hay lóe qua nhanh như bóng chớp chứ không bao giờ tự nó có thật và đứng vững mãi mãi nên đức Phật gọi tánh thực của nó là Tánh Không, là Không Tánh. Tánh Không là sự thật tuyệt đối của vạn sự, muôn loài, muôn vật nên hoàn toàn không có chỗ đứng cho một Thượng Đế toàn năng tự sinh, tự tạo. Đã không có tự tánh tuyệt đối thì làm gì có sự hiện hữu của Thượng Đế hay Thần Linh mà gọi là Hữu Thần hay Vô Thần…”

Các em trại sinh trại Vô Thần có vẻ hiểu hơn nên thích chí vỗ tay. Một em nữ, xưng tên là Kitty Hansen, đưa tay hỏi:

“Vậy thì tại sao người theo đạo Phật cũng có chùa thờ Phật, có lập bàn thờ cúng vái, có đọc kinh cầu nguyện? Đã cho là không có thần linh thì cầu nguyện ai nhỉ?”

Thời gian thì giới hạn mà đề tài đưa ra thì không đơn giản, tôi đang lựa chọn một cách trả lời đơn giản hợp với tinh thần của các em thì bỗng nhiên cuối phòng có người đưa tay. Được mời nói, trại sinh nầy lên tiếng:

“Đúng vậy, có: mới mất; không có: lấy gì để mất. Có tiền mới mất tiền. Có thần linh mới thờ thần linh. Ngày nay, người ta dùng tiền mới thấy có tiền hay mất tiền. Thời cổ sơ, người ta chưa biết đồng tiền là gì cả nên chẳng ai có tiền hay mất tiền cả. Nhưng thay vì dùng tiền như ngày nay, người thượng cổ cũng có cách riêng của họ để trao đổi mua bán chứ, phải vậy không?”

Rồi một ý kiến khác:

“Phật giáo tin có linh hồn không ạ? Nếu như tất cả đều không. Không có linh hồn thì khi thể xác nầy chết rồi, lấy gì để tái sinh?”

Toàn những câu hỏi chí lý. Tôi cảm thấy thú vị với bầu không khí sôi động nhưng vẫn chưa tìm ra cách giải thích với nhóm người trẻ tuổi có nếp suy nghĩ và suy luận vừa sắc bén, vừa thực dụng trong xã hội Mỹ nầy. Nếu lấy Duy Thức – Consciousness only – ra mà giải thích thì sẽ phải nói tới khái niệm “linh hồn” là Chủng Tử nằm trong A Lại Da Thức lại càng rắc rối thêm nữa! Tôi đành quay lại mượn cách giải thích “thính thị” theo lối ẩn dụ về trường hợp… 9/11 đã dùng ở trên, bằng cách hỏi chung tập thể trại sinh:

“Ai có computer ở nhà?”

Tất cả đều giơ tay lên.

Hỏi tiếp:

“Ai có email, website, facebook, blog, twitter… hay trang mạng riêng?”

Hầu hết giơ tay lên.

“Ai biết tín hiệu computer ở đâu khi ta chưa mở máy và tín hiệu đó sẽ về đâu sau khi ta tắt máy? Nguồn gốc của những tín hiệu nầy từ đâu và đầu tiên do ai hay cái gì sáng tạo ra?”

Không có ai trả lời.

“Thế có ai biết linh hồn là gì và nó như thế nào không?”

Không có ai trả lời.

“Vậy ta có thể ví linh hồn giống như những tín hiệu computer, luôn luôn có xung quanh ta và khắp nơi trong vũ trụ nhưng vô hình, vô ảnh, biến hiện tức thời và chuyển đổi hình tướng tùy theo ‘đối tượng hợp duyên’ như emails, twitter, facebook, blog… sẽ xuất hiện trên màn ảnh computer khi hội đủ các điều kiện cần thiết không?”

Có dăm ba tiếng vọng trả lời ngờ ngợ, không chính thức. Rồi có một giọng rắn rỏi cất lên tiếng đầy quyết đoán:

“Đúng, đúng… nói như Stephen Hawking là không có Nguyên Nhân Đầu Tiên và cũng chẳng có Ai Tự Mình hiện hữu rồi sáng tạo ra muôn loài cả. Tất cả đến từ Không. Tất cả đều do tình cờ hay các điều kiện bột phát tự hợp nhau mà có. Rồi tất cả lại hoàn không. Ha, ha , ha… chúng tôi chọn lối nghĩ Vô Thần là vì thế.”

Nhìn kỹ, đó là bác sĩ Joe Ramon, tham dự trại Vô Thần với tư cách là phụ huynh mà tôi đã gặp từ khi mới vào cổng trại. Rồi ông ta quay về phía tôi chì chiết:

“Hey, ông chưa trả lời những câu hỏi lên quan đến đạo Phật của ông. Làm ơn…”

Tôi khoát tay cười:

“Không sao, không sao ông bạn… vô thần ơi! Để hiểu một bài toán có khi chỉ cần một bài giải; nhưng để hiểu chính mình có khi cả đời chưa hiểu hết. Tôn giáo, nhất là Phật giáo lại càng mênh mông hơn. Nhưng, dẫu sao thì theo sự hiểu biết còn rất giới hạn của tôi, có bốn điều sơ lược nhất khi cần hiểu về Phật giáo:

Thứ nhất, đạo Phật không tin có một vị thần sáng tạo ra muôn loài muôn vật nên cho rằng đạo Phật “vô thần” cũng sai mà “hữu thần” cũng không đúng.

Thứ hai, đạo Phật là một tôn giáo đúng nghĩa vì có một hệ thống lý thuyết cao rộng và thâm sâu làm căn bản; có đức Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ khai sáng; có nếp sinh hoạt tâm linh; có những tổ chức tăng đoàn của giới theo Phật xuất gia và tổ chức đạo tràng của giới tại gia; có nếp tu trì hành đạo.

Thứ ba, đạo Phật có hình thức lễ nghi, thờ phụng nhưng không mê tín phó mặc cho bất cứ thế lực nào dắt đi. Chúng tôi gọi đức Phật là Thầy – Bổn sư – nên theo Ngài như theo một vị Thầy tôn kính và thờ phụng các bậc tổ sư cùng chư tôn đức theo phương vị những bậc thầy tâm linh trong suốt chiều dài của lịch sử đạo Phật.

Thứ tư, đạo Phật thờ cúng và đọc kinh cầu nguyện hay ngồi thiền là sử dụng phương tiện thiện xảo giúp giữ được một lòng hướng về năng lượng lành của ba ngôi Tam Bảo và nhờ năng lượng đó giúp mình tự soi rọi cho chính mình trên con đường tìm cầu giác ngộ. Cầu nguyện trong Phật giáo không đồng nghĩa là phó mặc số phận của mình vào tay thần linh hành xử.”

Đến lượt tôi hỏi lại các thành viên trại Vô Thần “Các bạn là ai? Các bạn tự định nghĩa mình như thế nào?” thì Dr. Ramon đã trả lời rằng:

“Chúng tôi là những người vô thần vì không tin có Thượng Đế. Hiện nay có 60 triệu người trong tổng số 310 triệu người Mỹ không theo tôn giáo nào cả. Họ gồm 3 thành phần có 3 khuynh hướng vừa giống nhau, vừa khác nhau như sau:

– Vô thần (Atheists): Họ tin rằng, không có một Thượng Đế, cách sống đời mình là do mình định liệu, không do đấng thần linh tối cao nào ra lệnh và ban phát cả. Sống là phải sống đời tươi đẹp, hạnh phúc xứng đáng với quyền làm người, vượt ra ngoài tất cả sự hệ lụy và trói buộc của thần linh, tín ngưỡng.

– Nhân bản (Humanists): Họ tin rằng cách sống đời sống của mình tốt đẹp nhất là là hành xử theo những nguyên tắc hợp tình hợp lý của trách nhiệm và hạnh phúc làm người, vượt ra ngoài những lễ nghi và bó buộc của tôn giáo.

 Khả tri (Agnostics): Còn gọi là bất khả tri. Họ không tin mà cũng chẳng chối bỏ quan niệm có hay không sự hiện hữu của Thượng Đế hay thánh thần trong cuộc sống của con người. Không biết thì nói không biết và tránh ra khỏi những gì mình không biết.”

Tôi hỏi tiếp:

“Thế tôn chỉ và mục đích đời sống thường ngày và nếp sống tâm linh của người vô thần như các bạn là gì và như thế nào?”

Alan Harris, người quản lý trại Camp Quest, trả lời:

“Tôn chỉ (motto) của chúng tôi là: ‘Sống tốt hơn, giúp nhiều hơn và tỉnh thức hơn’ (Live better, help often, and wonder more.) Tuy đơn giản nhưng không dễ dàng theo đúng. Như thế, tôn chỉ của chúng tôi có gì trái nghịch với đạo Phật của anh không?”

Thẳng thắn, tôi trả lời:

“Có thể khác biệt về phương tiện sử dụng để đạt được mục đích nhưng về phong cách sống thì khá đồng hành. Nầy nhé, một người theo đạo Phật bình thường phải giữ 5 giới để tự răn mình và nương theo 8 đường chánh (bát chánh đạo) để sống tốt hơn, giữ hạnh bố thí Ba la mật để giúp nhiều hơn và cố rèn luyện tinh thần từ bi – trí tuệ để tỉnh thức hơn.

Các trại viên bày tỏ sự quan tâm đầy thích thú. Một nữ trại viên lên tiếng:

“Các anh có vẻ ổn định tinh thần hơn chúng tôi vì có thuyết nhà Phật và tổ chức hành đạo để nương tựa và phát huy còn chúng tôi chỉ mới có tấm lòng và tri thức. Không chừng… anh lại muốn ‘cải đạo’ chúng tôi phải không?”

Tôi nói ngay:

“Xin lỗi, tôi có dị ứng với mọi hình thức cải đạo. Khuyến dụ, lôi kéo những người hiền lương cải đạo là một sự bất nhẫn; nếu không nói là một tội ác tâm linh không khác gì quân Tây Ban Nha xâm lăng và tiêu diệt hết cả văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của các nước Nam Mỹ vào thế kỷ 16 rồi áp đặt mọi sản phẩm của mình – quyền lực chính trị, vũ khí đàn áp, đời sống tâm linh tôn giáo – lên thân phận của kẻ bị thua cuộc. Sự mua chuộc cải đạo là những thương vụ đen tối mà kẻ có lương tri làm người và biết cảm niệm ân đức của Tự nhiên, Tạo hóa, Trời đất không bao giờ nên làm…”

Cả phòng hội vỗ tay. Không rõ người ta vỗ tay vì biểu đồng tình với tôi hay tại đói bụng vì trời đã trưa. Tôi chủ động chấm dứt cuộc hội luận và hẹn gặp nhau vào buổi chiều theo thời khóa đã định.

(Xin xem tiếp phần 2: Trại Vô Thần buổi chiều. Bài tường thuật đăng tại http://www.trankiemdoan.net )

                                                         Grass Valley, tháng bảy – 2013
                                                                     Trần Kiêm Đoàn

Bài viết liên quan